Saturday, July 2, 2011

George Dutton - Lý Toét ra thành phố: Làm quen với hiện đại ở Việt Nam vào thập niên 1930 (phần cuối)

Nguyễn Yên Sa dịch

Lý Toét và những lời bình về chủ nghĩa hiện đại

Như chúng ta thấy, có thể đặt Lý Toét trong một truyền thống bình luận xã hội truyền thống vừa lâu đời và mang tính bản địa, đồng thời cũng mới du nhập và "ngoại lai". Nhưng chức năng riêng của nhân vật Lý Toét trên Phong Hóa cũng như trên các tờ tạp chí khác mà ông ta xuất hiện là gì? Tôi đã trình bày rằng nhân vật Lý Toét rõ ràng đã thực hiện chức năng cơ bản là cung cấp những lời bình luận khôi hài về sự tương phản giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và hiện tại (và tương lai), và giữa giá trị hiện đại và truyền thống. Trên tờ Phong Hóa, Lý Toét trực tiếp bị ném vào xã hội thành thị hiện đại, nơi ông bị lạc lối. Trên những trang báo đó, Lý Toét bị quảng cáo của bác sĩ, quần áo, và dược phẩm bao vây, và đôi khi còn bước vào [thế giới đó]. (1) Lý Toét là hình mẫu của tất cả những điều mà thị dân nhìn thấy nơi viên lý trưởng nhà quê lạc hậu, bị khinh bỉ cả vì sự hủ lậu và lên mặt ta đây.

Điều cũng quan trọng không kém là chúng ta có thể đặt Lý Toét vào điều mà, theo Greg Lockhart, là một sự chuyển đổi ý thức liên quan đến mục đích của văn học.(2) Trong quá khứ, Lockhart nhận xét, văn xuôi Việt Nam thường xuyên được dùng như một loại "tấm gương đạo đức" để phản ánh điều mà cuộc sống nên là. Nghĩa là, những văn bản đó có chức năng mô phạm rõ ràng, phản ánh những phẩm chất đạo đức đặc thù mà giới sĩ phu sáng tác ra chúng muốn đề cao. Thế giới mới của báo chí hiện đại đã thay đổi căn bản cách tiếp cận này, khi những tạp chí như Phong Hóa tìm cách miêu tả thế giới không giống như nó nên có, mà như nó chính là.(3) Mục đích của tấm gương bây giờ là phản ánh thế giới thực, thay vì phụng sự như một công cụ dạy dỗ. Ðặt trong bối cảnh này, Lý Toét thực sự đại diện sự va chạm giữa hai quan điểm này.

Mặc dù hoàn toàn không phải là điển hình của giới Nho sĩ, Lý Toét đại diện cho một quan niệm đặc thù về một thế giới trong đó có những yếu tố mạnh mẽ của cái “nên là” thay vì của cái “chính là”. Trong những cuộc chạm chán với xã hội đô thị, Lý Toét liên tiếp đối mặt với thế giới như nó là, ngay cả khi ông cố gắng đặt thế giới ấy vào bối cảnh của những gì ông biết, hay của những gì mà ông nghĩ là mình biết, về việc thế giới nên là như thế nào.

Tuy nhiên, Lý Toét không chỉ đơn giản là một hình ảnh trái ngược hiển nhiên, một nguồn hài hước do vẻ khờ khạo, lạc lõng, và tính xuẩn ngốc rõ rệt ở ông ta. Mà Lý Toét còn đại diện cho một số thứ khác. Đầu tiên, ông ta phản ánh tình trạng phân cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, tạo ra sự phân chia trong xã hội Việt nam, những biểu hiện mà trước đây được hạn chế. Về phương diện này, Lý Toét đại diện cho quan điểm về một thời và sự thay đổi đột ngột phân cách thành thị với nông thôn.

Thứ hai, Lý Toét được dùng để nhắc nhở về tầm quan trọng của tri thức như một công cụ cần thiết để tồn tại trong môi trường thành thị hiện đại. Những hành động của Lý Toét và các cuộc chạm chán của ông [với cuộc sống đô thị] liên tiếp nhấn mạnh ý tưởng rằng cái hiện đại không chỉ đơn thuần về bề mặt và việc bắt chước cái hiện đại và đặc biệt là Âu châu, mà còn đòi hỏi kiến thức hiểu cái hiện đại đó vận hành như thế nào. Cuối cùng, là một nhân vật bị nhạo báng, Lý Toét là một phần trong cái công thức cho phép thị dân, ở một mức độ nào đó, được tự tán thưởng độ tinh tế của chính mình khi so sánh với người dân nông thôn. Chứng kiến những thất bại của Lý Toét trong việc hiểu cách vận hành của công nghệ hiện đại và việc Lý Toét hiểu sai chức năng của một số yếu tố nhất định của đô thị hiện đại, người đọc có thể đo, với đầy lợi thế, mức độ tinh tế của chính mình.

Ở mức độ hiển nhiên nhất này, sự hài hước về Lý Toét được sử dụng để biểu thị một tính ưu việt nhất định của thành thị so với dân quê, và vì vậy Lý Toét thường bị biếm họa như một gã ngốc, bất lực thậm chí trước cả thứ logic sơ đẳng nhất. Lý Toét không thể hiểu nổi chức năng của ống mút; ông không biết cách xem đồng hồ đeo tay.(4) Không những ông gặp khó khăn trong việc tán thưởng chức năng của nhiều loại dụng cụ hiện đại, mà còn thường biểu lộ là mình không có nổi thứ logic cơ bản nhất, hoặc rõ ràng không hiểu được các ý niệm (thường đến mức) mà đa phần người dân thành thị thậm chí không để ý đến. Bằng cách này, người dân quê Việt Nam được mô tả không những là không văn minh, mà còn bất lực về mặt tri thức.

Nhân vật Lý Toét nói riêng, và báo Phong Hoá nói chung, phản ánh và định hình một khái niệm kép về tính hiện đại. Một mặt, đây là một khái niệm riêng biệt về thời gian: rằng hiện tại khác với quá khứ rõ rệt và trải nghiệm được (dù là so với một quá khứ tương đối gần đây), và rằng con người sống và hoạt động trong chính thời đại mới này. Mặt khác, cũng có một chiều kích không gian trong cái hiện đại này. Trong khi người ta coi môi trường đô thị nằm vững trong kỷ nguyên hiện đại này, thì nông thôn vẫn được xem, về nhiều khía cạnh, là, bằng cách nào đó, tồn tại trong một thời gian trước khi có hiện đại. Vì vậy, hai thể thức này đồng tồn tại bên nhau. Trong phép nhị nguyên này, Lý Toét đại diện cho cái không hiện đại theo cách thức mang cả hai mối “tiền hiện đại” này lại với nhau. Ông đại diiện cho một nhân vật sống trong thời hiện đại ở môi trường đô thị, thậm chí ngay cả khi ông là đại diện trực tiếp của cái thể giới làng quê vẫn chưa hiện đại. Theo cách này, ông cũng đại diện cho khoảng cách biệt giữa một bên là động lực đô thị dường như ngày một tiến hoá, và bên kia là nhận thức về sự phi thời gian ở nông thôn, tồn tại bên ngoài dòng thời gian đang quyết định cuộc sống đô thị.

Tuy nhiên, như tôi đã gợi ý, không đơn thuần chỉ là sự ngu ngốc cơ bản của nhân vật Lý Toét đã tạo ra sự hài hước, cũng không phải là thông điệp duy nhất nhắn nhủ tới độc giả và những người xem tranh biếm họa ở thành thị. Để khảo sát một số những chiều kích tinh tế khác trong những thể hiện về Lý Toét, tôi muốn xem xét, qua một số ví dụ cụ thể, những cuộc chạm trán của nhân vật này với cuộc sống thành thị hiện đại. Nói chung, ta có thể coi sự hài hước của tranh Lý Toét - ít nhất là do thị giác và là bề nổi – là lời bình trực tiếp về một số vấn đề, như đã thấy trong Bảng 1.

Một trong những tranh hài hước rõ nhất về Lý Toét xoay quanh những cuộc chạm trán của ông với y phục hiện đại. Bản chất của sự hài hước nằm trong sự bất lực không hiểu nổi chức năng của những thứ quần áo mới này. Hay, chính xác hơn, sự hài hước xuất phát từ nỗ lực cố hiểu những bộ y phục này theo cách mà Lý Toét quen thuộc, hoặc theo những khái niệm mà ông đã biết. Ðiều này được thể hiện trong nhiều tranh vẽ Lý Toét cố gắng làm quen với Âu phục. Trong một biếm họa đăng vào tháng Ba năm 1934, Lý Toét xem xét một chiếc áo pullover, và dưới hàng phụ đề “Lý Toét văn minh”, chúng ta thấy ông cố gắng mặc áo.(5)

Trong một bức biếm họa tương tự, tựa đề "Lý Toét ra Đồ Sơn", ta thấy Lý Toét đang quan sát hai người phụ nữ mặc đồ tắm kiểu mới nhất, đi dạo trên bãi biển. Nhìn họ, ông quyết định rằng sẽ thử ăn mặc bắt chước họ, và do vậy, cũng sẽ trở thành một người hiện đại. Khi về đến nhà, ông thu thập các kiểu quần áo quen thuộc với mình lại, mặc vào người và tuyên bố: “Văn minh thì khó gì –Cái khăn vuông, cái yếm của mẹ đĩ, cái quần của thằng cu, và cái chăn chiên này là đủ bộ quần áo tắm khá lịch sự.”(6)

Cuối cùng, trong một bức tranh khác, chúng ta thấy Lý Toét thử mặc quần áo theo kiểu Tây, dưới có tiểu đề "diện Tây”.(7) Ông quay sang một phụ nữ cùng một đứa bé và hỏi, "tôi ăn mặc có giống một người phương Tây không?" Ðứa trẻ trả lời, "Rất giống, nhưng hồi trước, khi con nhìn thấy những người Tây trở lại trường học, họ không có búi tóc trên đầu giống như bố?" Ở đây Lý Toét đang cố học cách ăn mặc của người phương Tây, và lần này ông suýt làm được điều đó, nhưng búi tó truyền thống đã làm ông bị lộ.

Trong mỗi chuỗi biếm họa nói trên, chúng ta thấy Lý Toét cho rằng điều kiện để trở nên văn minh là mặc những loại quần áo đặc thù đó. Tuy thế, trong quá trình cố chứng minh là mình được khai hóa (hoặc có thể hành động), ông ta đã thất bại. Tất nhiên, ở mức độ căn bản, cái hài nằm trong sự thất bại của Lý Toét, nhưng chuỗi tranh châm biếm này còn gợi lên một số điều khác liên quan đến khái niệm về văn minh hóa hoặc hiện đại. Trước hết, chuỗi biếm họa cho thấy rằng văn minh hoá không chỉ có nghĩa là mặc một loại quần áo nhất định nào đó, mà còn đòi hỏi phải biết cách mặc như thế nào. Bằng cách này, biếm họa nhẹ nhàng chỉ trích những người quá nhanh chóng coi những biểu hiện bề ngoài của văn minh là văn minh. Nhưng trớ trêu thay, việc các trang báo Phong Hoá thường xuyên đăng quảng cáo cho chính những loại “Âu” phục đó lại ngầm gợi ý rằng việc mặc những thứ y phục đó là điều kiện cần thiết để trở thành hiện đại hoặc văn minh hoá.(8)

Mối liên hệ giữa tri thức và hiện đại ở đây hết sức quan trọng, thường được thể hiện trên Phong Hoá. Biểu hiện rõ rệt nhất là tờ Phong Hoá có một cột riêng về tin tức thế giới cũng như trong nước, dưới tiểu đề “Những điều quan trọng cần biết trong tuần”. Về mặt này, Phong Hoá rõ ràng đã thực hiện một trong những chức năng cơ bản của một tờ báo hiện đại –thông tin về những sự kiện thời sự - nhưng tờ báo cũng gợi ý rằng độc giả cần loại tri thức này như một phần của cái hiện đại. Trong cuốn Vietnamese Tradition on Trial, chương “Knowledge Power” (Sức mạnh Tri thức), David Marr trình bày cặn kẽ về sự bùng nổ đáng kinh ngạc của các thông tin khoa học và thực tiễn, sản phẩm trực tiếp nhờ sự phát triển của ngành in ấn, được cung cấp cho người Việt thuộc mọi giai cấp trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20. (9) Tri thức này được xem như điều kiện cần để trở thành hiện đại, và ngay cả người dân nông thôn cũng không nằm ngoài lĩnh vực thông tin ngày càng gia tăng này; điều này được minh chứng bằng một cuốn cẩm nang cho nông dân với tựa đề “[Ðiều] Dân quê cần biết”.(10)

Một ý nghĩa quan trọng khác của chuỗi biếm họa trên Phong Hoá, đặc biệt là biếm họa tả Lý Toét cố gắng tự tạo tại nhà một bộ đồ bơi hiện đại, là diễn tả thất bại của Lý Toét vì không hiểu được rằng những cái trông có vẻ quen thuộc nhưng trên thực tế hoàn toàn không phải vậy. Biếm họa đó cho thấy, trái ngược với nhận thức của Lý Toét, không có gì tương tự với những thứ áo quần hiện đại mà ông thấy trên bãi biển và trên đường phố. Thật vậy, việc thường xuyên hiểu sai đồ vật và hoàn cảnh là một chủ đề chung trong các biếm họa về Lý Toét, bắt đầu từ sự xuất hiện lần đầu của ông, trong đó ông hiểu nhầm một vòi nước máy ngoài đường là một tấm bia mộ.

Ðương nhiên, việc Lý Toét cố gắng hiểu cách hành xử cũng như cảnh tượng đô thị từ xuất xứ làng quê của mình là lẽ tự nhiên, và sự hài hước về hoàn cảnh đó thường xuất phát chính từ việc ông dùng lăng kính làng quê để hiểu môi trường đô thị. Trong một biếm họa in năm 1933, ta thấy Lý Toét đi ngang qua một công trình sửa đường ở Lào Kay, và những người thợ đang đổ những xô nhựa đường lớn ra và dùng chổi san mịn để lát đường. 
Thấy vậy, ông lẩm bẩm: “Gớm! Lào Kay nhiều thuốc phiện thật, họ rải cả ra đường… nếu mình được một thùng này mang về Hà Nội bán thì giàu to!”(11) Rõ ràng đây là một lời bình luận về việc độc quyền và kiểm soát buôn bán thuốc phiện của người Pháp, nhưng nó cũng cho thấy Lý Toét cố gắng tìm hiểu tiến trình trải nhựa đường, điều ông chưa bao giờ thấy, bằng cách quy nó thành nhựa đen của thuốc phiện mà ông đã từng thấy.

Một hình ảnh khác mô tả nỗ lực của Lý Toét trong việc tìm hiểu thế giới mới lạ lẫm này cho thấy Lý Toét đang quan sát người ta đào một cái hố sâu trên phố. Một lần nữa, ta thấy ông có vẻ rất ngạc nhiên, và ông tự lẩm bẩm, “Quái! Cao thế nào mà đào dài vậy?”(12) Một lần nữa, Lý Toét, khi thấy một sự việc lạ, cố gắng hiểu sự việc ấy đến mức tối đa mà ông có thể hiểu, và kết luận rằng những người đó đang đào mộ.

Cuối cùng, trong một bức biếm họa khác, Lý Toét dừng lại để ngẫm nghĩ trước một cái bục nhỏ, chỗ đứng của cảnh sát giao thông giữa đường phố đông người . Không thể hiểu được hình ảnh này theo cách khác, Lý Toét kết luận rằng cái bệ thực chất là một tấm bia mộ, và sự có mặt của cảnh sát - có vẻ như để bảo vệ phần mộ - cho thấy đó là ngôi mộ của một nhân vật quan trọng.(13)

Trong tất cả những trường hợp này và nhiều trường hợp khác tương tự, Lý Toét tìm cách áp dụng những kiến thức nông thôn/truyền thống vốn có của mình vào cuộc sống thành thị mới. Vì vậy, với cố gắng hiểu những điều mình chứng kiến, (biếm họa về) Lý Toét một lần nữa kiên quyết nhấn mạnh hai vấn đề cơ bản: rằng những người nông dân không thể hiểu cái hiện đại, thậm chí ngay cả khi họ tận mắt nhìn thấy nó, và rằng hiện đại yêu cầu một tri thức thật sự để có thể hiểu và hành xử ở nơi thành thị. Thất bại của Lý Toét trong việc hiểu môi trường đô thị, dù với chiếc áo pull hay công trình trải nhựa đường, cũng có thể được hiểu là cách mà người dân thành thị có thể tự chúc mừng sự tinh tế của mình trong những vấn đề như vậy ít nhất ở một mức độ nào đó. Có nghĩa là họ đều hiểu biết (những điều mà Lý Toét không hiểu), và mức độ “văn minh” của họ được thể hiện trong tiếng cười họ dành cho Lý Toét. Theo tôi, mức độ tinh tế (của người dân thành thị) này không lấy gì làm vững chắc.

Các đô thị Việt Nam vào thập niên 1930, chỉ trong một thời gian rất ngắn, có những thay đổi rất lớn. (14)  Hơn nữa, rất nhiều người đang sống ở Hà Nội cũng chỉ vừa mới chuyển về thành phố này, bao gồm khá nhiều các biên tập viên và các cây bút viết cho tờ Phong Hoá. Nhiều độc giả lớn tuổi xem các biếm hoạ về Lý Toét cũng có thể, chính họ, chỉ mới không lâu trước đây thôi, đã bối rối trước chức năng của một số dụng cụ đó. Vì vậy, một mặt, họ có thể cười Lý Toét hiểu sai, vì bây giờ họ đã biết nhiều hơn; mặt khác, họ có thể thông cảm với Lý Toét, từ những kinh nghiệm của chính cá nhân họ, hoặc của những người mà họ biết.

Chúng ta có thể thấy rõ minh họa cho trường hợp này trong một bức biếm họa, trong đó Lý Toét đang đứng với bạn của ông là “Bác Xã” tại một bến xe buýt . Phía trước họ là một tấm biển đề "Ôtô Hà Nội Nam Địnhh: ng Tây 2 xu 1 kil, ng ta 1 xu 1 kil”. Hiểu lầm tấm biển đó, Lý Toét tuyên bố: "Kia bác Xã, tôi nặng có 30 cân, coi đâu bác nặng những 80 cân, thế ra tôi phải trả tiền xe ít hơn bác nhiều.”(15)

Bằng cách hiểu chữ viết tắt “kil” là “kilogram” thay vì “kilometer,” Lý Toét biến một tình thế đơn giản thành một tình huống hài hước, một lần nữa cho thấy sự chất phác của người dân nông thôn. Nhưng cùng lúc đó, rất có nhiều khả năng là cả một số người dân thành thị, khi mới lần đầu thấy kiểu viết tắt cho “kilometer”, cũng dễ dàng hiểu sai như vậy. Bằng cách này, các biếm họa không chỉ đơn thuần là chế nhạo sự dốt nát của dân nhà quê.

Những hiểm họa trong cuộc sống nơi đô thị

Trong khi những hành động của Lý Toét là một lời bình luận về những điều mới lạ và những thuận lợi của cuộc sống thành thị hiện đại, nó cũng phản ánh nhiều mối nguy hiểm. Điều này xuất hiện khá nhiều trên các minh họa trên tạp chí Phong Hoá, mô tả rất nhiều người trở thành nạn nhân của những phương tiện chuyên chở hiện đại: ô tô, xe buýt, tàu hỏa, xe điện, và ngay cả xe đạp. (16) Ví dụ, một vài bức biếm họa miêu tả sự nguy hiểm của xe đạp, không phải cho những người đi bộ, mà cho chính những người đi xe đạp - phần lớn là thanh niên, thường do mải ngắm những thiếu nữ trẻ trên đường, và hậu quả là ngã xe.(17)

Nhưng chỉ dấu nguy hiểm rõ ràng nhất của phương tiện giao thông hiện đại là, những bức biếm họa cho thấy, điều chúng có thể gây ra cho làm người đi bộ. Một biếm họa đăng hồi tháng Ba năm 1933, vẽ cảnh một người đàn ông đang nằm vật trên đường, chân vừa bị một chiếc ôtô đang chạy nghiến nát đến đầu gối. Người bạn vừa chạy đi vừa hét: "Tôi sẽ gọi cảnh sát! Hãy nằm yên đó và đừng chạy đi đâu nhé!”(18) Một bức tranh tương tự, được đăng vài tháng sau đó, miêu tả một người đàn ông bị cụt chân do xe cán phải. Một người đàn bà thò cổ ra hỏi nạn nhân đang nằm dưới đường, "Thưa ông, có việc gì không ạ?" Người vừa bị cụt chân trả lời: "Không hề gì! Ðược xe quý nương đè thực đã lấy làm hân hạnh.”

Một sự nguy hiểm khác ở thành thị là cống ngầm và những đường ống cấp nước đang dần dần được lắp đặt ở Hà Nội trong những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Một số bức biếm họa vẽ cảnh những người đi dạo trên vỉa hè, vì quá mải nói chuyện nên đã ngã xuống miệng cống để mở, khiến vỉa hè của người đi bộ biến thành những khu vực nguy hiểm.(19) Điều này cho thấy là dù vỉa hè có thể giúp những người đi bộ tránh được mối nguy từ nhiều chiếc xe chạy nhanh trên đường, nhưng chúng lại bộc lộ những nguy cơ khác mà những cư dân thành thị không ngờ tới.

Trong một bức biếm họa vào năm 1933, chúng ta thấy Lý Toét cuối cùng đã tìm ra cách tránh những nguy hiểm này, đặc biệt là những chiếc ô tô đang lao khắp thành phố và nông thôn. Ông đi dạo dọc một đường ray tàu hỏa, và tự nhủ: “Con đường này tiện thật! Ði ở đây còn sợ gì ô-tô cán nữa - khỏi sợ chết vì nạn ô-tô.”

Trong lúc đó, một chiếc tàu hỏa đang tiến dần đến sau lưng ông. (20) Tôi biện luận rằng những bức tranh đó một lần nữa phản ánh rất rõ một sự mâu thuẫn về "tính hiện đại" đã làm thay đổi ít nhất một số yếu tố trong xã hội Việt Nam. Đúng, hiện đại tiện lợi, nhanh, và đôi khi thoải mái, nhưng nó cũng nguy hiểm. Sự nguy hiểm này được miêu tả dưới hình thức khôi hài trong những bức biếm họa về Lý Toét và cả những bức khác, ngay cả khi hẳn đã có khá nhiều người chết và bị thương trong những vụ va chạm giữa người đi bộ và các phương tiện giao thông hiện đại. Thực vậy, phần lớn cư dân thành thị hẳn đã tận mắt chứng kiến những vụ tai nạn như vậy. Cũng đáng lưu ý là phần lớn những vụ tai nạn do những chiếc xe hiện đại này gây ra thông thường là do những người giàu, thường là người Pháp nhiều hơn, và nạn nhân của họ thường là người Việt, không có sự chuẩn bị cho những nguy hiểm nơi thành thị.

Nhìn lại Lý Toét

Mặc dù tiểu luận này mới chỉ bắt đầu khám phá những khả năng diễn giải Lý Toét và các rủi ro của ông ở thành phố Việt Nam, tôi hi vọng đã chỉ ra được rằng việc biếm hoạ Lý Toét xuất hiện hàng tuần trên Phong Hoá khiến ông trở thành một nhân vật quan trọng trong thế giới thành thị ở Việt Nam vào những năm 1930. Lẽ tự nhiên là ông làm mọi người cười; đó là một thuộc tính quan trọng trong một thời kỳ của những đổi thay sâu rộng và những bấp bênh liên tục. Như chúng ta đã thấy, biếm họa về Lý Toét cũng có chức năng như một lời bình luận về những thay đổi đó, bằng cách đặt cạnh nhau những hình ảnh thị giác rõ ràng đại diện cho “cái truyền thống” và “cái hiện đại”. Là đại diện của một trật tự lâu đời, chỉ sự xuất hiện của Lý Toét bên cạnh một chiếc xe hơi, một cây cột điện, một cái máy hát, hay một chiếc quạt máy, cũng đủ gợi cho mọi người nghĩ đến bản chất của những thay đổi đã diễn ra gần như chỉ vẻn vẹn trong vòng có một thế hệ.

Nhưng theo tôi, Lý Toét không chỉ đơn giản gợi nhớ đến những thay đổi này. Trong một chừng mực nào đó, ông cũng nhận xét về chúng. Dù nhóm Tự lực Văn đoàn công khai tuyên bố rằng những thành viên của nhóm đang phấn đấu vì tiến bộ và hiện đại, những bức biếm họa về Lý Toét lại vẽ lên một thái độ mâu thuẫn hơn nhiều về sự thay đổi. Chúng (những bức biếm họa) cho thấy một thái độ không chắc chắn lắm về sự tiến bộ, và có thể thậm chí cả những hoài niệm về một thời đơn giản hơn đang mất đi rất nhanh. Chúng ta có thể thấy những mâu thuẫn này qua những mô tả thường xuyên, thường là đẫm máu, về những nguy hiểm trong cuộc sống thành thị, bao gồm ô tô, tàu hỏa, nắp cống mở, và những thiết bị điện xa lạ.

Những mâu thuẫn đó cũng được bộc lộ qua những sự bất tiện nhất định xuất hiện cùng với cái hiện đại, những bất tiện gây tác động đến chú cá ra khỏi nước là Lý Toét, nhưng cũng ảnh hưởng đến ít nhất một số người dân thành thị có thật. Người ta cười (ngầm) Lý Toét ở một cửa hàng thuốc vì định mua một xu thuốc lá, hay tại một tiệm bánh ngọt vì định mua 1 xu bánh đúc. Cả hai biếm hoạ đó đều gợi ý rất rõ là những vụ mua bán như vậy có thể chấp nhận được ở chợ làng, nhưng không thể xảy ra ở những tiệm hàng hiện đại, nơi người ta phải mua với số lượng nhiều hơn thế. Ðiều này, nếu không còn lý do khác, nhắc chúng ta nhớ rằng, hiện đại chỉ dành cho những người có đủ của cải. Rõ ràng là nhiều độc giả của Phong Hoá có khả năng như vậy, nhưng tôi cho rằng cũng có khá nhiều người muốn có được lựa chọn là chỉ cần mua với “một xu” thôi.

Cuối cùng, như tôi đã nói ở trên, nhân vật Lý Toét được dùng như một cơ chế để những cư dân thành thị có thể ngầm tự ăn mừng về sự hiểu biết của mình. Họ có thể cười Lý Toét chính vì họ hiểu những điều Lý Toét không hiểu: chức năng của nhà vệ sinh ngoài trời, bản chất và mục đích của nhiều công trình làm đường khác nhau, nguyên lý hoạt động của quạt máy và máy ảnh. Vì vậy Lý Toét giúp những người có thể nghi ngờ về sự hiện đại của chính họ được tự tin hơn, vì họ có thể thấy được hoàn cảnh, hoặc vật thể đó thật kỹ lưỡng, và được an ủi là họ “nắm bắt được nó”, trong khi Lý Toét thì không.

Theo tôi, điều này lý giải cho cái mà tôi ngờ là tính mong manh cố hữu của cái hiện đại bắt rễ ở đô thị Việt Nam vào những năm 1930. Văn học thời kỳ này, gồm cả Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, phơi bày sự thiếu tự tin này trong các nhân vật đang bị bao vây bởi rất nhiều mặt của cái hiện đại, từ tấm biển hiệu bằng chữ Quốc ngữ được kiểu cách hoá cho tới các kiểu quần áo mới. Các nhân vật này bộc lộ qua lời nói và hành động của họ nỗi lo sợ không được xem là hiện đại, và không được coi là hiểu biết về thế giới đang thay đổi diễn ra quanh họ. Do vậy, khi đối mặt với các kiểu quần áo tối tân nhất, một phụ nữ trung niên đã đồng ý mua một trong những bộ hở hang nhất của tiệm may Âu hoá, chỉ để chứng tỏ mình tân thời hơn.(21)

Sự tự tin mong manh và thái độ mâu thuẫn ẩn bên dưới nó được nhấn mạnh trong một cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc do Phong Hoá và Ngày Nay tổ chức vào năm 1935, trong đó người đọc được hỏi giữa cái mới, cái cũ, hay một thoả hiệp giữa mới và cũ, thì họ thích cái nào hơn. Có tới những 41% độc giả cho biết họ thích con đường thoả hiệp; điều này cho thấy, ở một mức độ khá đáng kể, những người này còn đang cố gắng tìm hiểu mọi thứ, và không sẵn lòng dấn thân vào công cuộc vận động cho cái mới của nhóm Tự lực Văn đoàn.(22)

Đứng giữa hai thế giới cũ và mới, Lý Toét không đơn thuần là một cơ chế nhằm bác bỏ những thứ lỗi thời và quá hạn, mà còn phản ánh rất nhiều tình trạng lưỡng lự của nhiều người không biết cái gì nên gìn giữ và cái gì cần vứt bỏ trong một thời đại của sự thay đổi khổng lồ.

George Dutton là Phó Giáo sư (Assistant Professor), khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Châu Á, Trường đại học California tại Los Angeles (UCLA). Tiểu luận này bắt nguồn từ một bài nói chuyện tại Hội nghị Đông Nam Á, tại Trường đại học California, Berkeley (UC Berkeley) vào năm 2004. Người viết cảm ơn Shawn McHale, thảo luận viên tại hội nghị, cũng như tới Peter Zinoman và John Schafer, về những nhận xét và gợi ý của họ để tiểu luận này được tốt hơn.

---------------
Chú thích

1. Quảng cáo trang 2 của Phong Hóa vào ngày 23 tháng 3 năm 1934 về một loại thuốc bán ở Nam Ðịnh, ví dụ, mô tả Lý Toét (được mang danh thầy), hỏi lời khuyên về một cách chữa bệnh nhanh chóng, và nhanh chóng được chỉ dẫn đến địa chỉ của nhà bào chế, nơi sẽ gây ảnh hưởng đến cách chữa bệnh này.

2. Lockhart and Lockhart, lời giới thiệu cuốn Light of the Capital, 18–22.

3. Tờ Nam Phong của Phạm Quỳnh đại diện cho vị trí giữa hai thái cực này, vì nó thừa nhận thế giới đang thay đổi và hiện thực (của thế giới ấy), trong khi vẫn tìm cách để duy trì một số yếu tố đạo đức mà biên tập của tờ này không muốn từ bỏ.

4. Phong Hóa, August 25, 1932, trang 3; March 23, 1934, trang 2.

5. Phong Hóa, March 30, 1934, trang 1.

6. Phong Hóa, August 8, 1934, trang 14.

7. Tiểu đề “diện” có thể chủ ý mang nghĩa nước đôi.

8. Việc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng tài tình chế nhạo lớp thị dân Hà Nội, những người ám ảnh về Âu phục không chỉ là phản ảnh của cái hiện đại, mà nó cũng chính là một phần của cái hiện đại ấy. Xem Vũ Trọng Phụng, Dumb Luck, đặc biệt các trang 57–64 về tiệm may Âu hoá.

9. Marr, Vietnamese Tradition, 327–367.

10. Như trên., 338.

11. Phong Hóa, September 8, 1933, trang 5.

12. Phong Hóa, August 11, 1933, trang 1.

13. Phong Hóa, March 30, 1932, trang 2.

14. Xem William Logan, Hanoi: Biography of a City (Seattle: University of Washington Press, 2000), 67–112.

15. Phong Hóa, May 10, 1935, trang 4.

16. Ðể biết về các tai nạn ô tô cũng như những hiểm họa cố hữu của hệ thống đường xá thời thực dân, xem Truong Buu Lam, “The Vietnamese Perception of Colonialism,”trong Colonialism Experienced: Vietnamese Writings on Colonialism, 1900–1931 (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2000), 46–47.

17. Ví dụ, xem Phong Hóa, September 29, 1934, trang 1; October 13, 1933, trang 8.

18. Phong Hóa, March 31, 1933, trang 3.

19. Phong Hóa, August 13, 1933, trang 13; March 31, 1933, trang 3.

20. Phong Hóa, September 8, 1933, trang 7.

21. Vũ Trọng Phụng, Dumb Luck, 62–63.

22. Nguyễn Văn Ký, La Société Vietnamienne, 107–108. 

Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, Vol. 2, Issue 1, Winter 2007. Bản tiếng Việt đăng lần đầu trên VieTimes.

4 comments: